Thực trạng ung thư đáng báo động tại Việt Nam

0
1285
thuc-trang-ung-thu-dang-bao-dong-tai-viet-nam

Thực trạng ung thư đáng báo động – Việt Nam đứng thứ 78/172 quốc gia, được xếp vào tốp 2 các quốc gia có tỉ lệ mắc ung thư cao nhất thế giới. Ở nước ta, mỗi năm có hơn 70.000 người chết vì ung thư.

Các yếu tố nguy cơ

Nhiễm trùng

Các bệnh ung thư liên quan đến nhiễm trùng chiếm ba trong sáu loại phổ biến nhất: ung thư gan, dạ dày và cổ tử cung. Ung thư gan thường liên quan đến nguyên nhân do nhiễm virus viêm gan B (HBV). Hầu hết trẻ em Việt Nam mới sinh hiện đã được chủng ngừa HBV. Sự sẵn có và khả năng tiếp cận với vắc-xin VGB ngày càng tăng có thể mang lại cơ hội đáng kể để giảm tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư gan ở Việt Nam trong những thập kỷ tới.

Ung thư cổ tử cung có liên quan đến sự nhiễm trùng của một số loại vi rút u nhú ở người (HPV). Tiêm phòng HPV hiện đang được thử nghiệm. Trong giai đoạn 2008–2010, một chương trình Gavi đã cung cấp vắc xin HPV cho 6.000 thanh thiếu niên ở một số tỉnh (7). Do chi phí tiêm phòng vắc xin HPV16 và 18 rất cao, nên hiện tại đây không phải là chiến lược kiểm soát ung thư quốc gia khả thi.

Nhân tố môi trường

Chế độ ăn uống có liên quan đến việc giảm hoặc tăng nguy cơ ung thư. Ở Việt Nam, chế độ ăn uống, hút thuốc lá và ô nhiễm không khí là nguyên nhân của 3 trong 4 yếu tố nguy cơ phổ biến nhất của các bệnh mãn tính không lây ở Việt Nam.

Các hợp chất trong thực phẩm có thể là chất sinh ung thư hoặc có hoạt tính chống ung thư. Các chính sách về kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như ô nhiễm môi trường vẫn là những ưu tiên tiếp tục cho giai đoạn tiếp theo.

Các yếu tố di truyền

Các nghiên cứu khác nhau cho thấy mối tương quan giữa các yếu tố di truyền và ung thư. Ở Việt Nam, khả năng nghiên cứu sinh học phân tử ung thư còn hạn chế. Nghiên cứu chất lượng cao nhất là nghiên cứu đa trung tâm về ung thư phổi cho thấy 60% bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ Việt Nam có đột biến gen EGFR (8). Cần nghiên cứu thêm về lĩnh vực này ở Việt Nam.

Tóm lại, những tiến bộ về phòng chống ung thư ban đầu ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây là rất ấn tượng, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm và các chính sách cần thực hiện cũng như giáo dục về ung thư cho người dân và các nhà cung cấp dịch vụ y tế về phòng chống ung thư.

Sàng lọc và phát hiện sớm

Sàng lọc và phát hiện sớm được chứng minh là có hiệu quả trong việc chữa khỏi và cải thiện khả năng sống sót khỏi bệnh ung thư. Trong một nghiên cứu hồi cứu về các giai đoạn ung thư tại 5 bệnh viện ung thư lớn nhất Việt Nam năm 2009, kết quả cho thấy phần lớn bệnh nhân ung thư đến khám và được chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Trong số bệnh nhân mới được chẩn đoán, lần lượt có 87,8%, 86,9%, 84,3%, 67,8% và 49,5% mắc ung thư gan, dạ dày, phổi, đại trực tràng và vú có biểu hiện ở giai đoạn III và IV khi được chẩn đoán.

Trong giai đoạn 2008–2015, một chương trình tầm soát bao gồm ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư miệng và đại trực tràng đã được thực hiện với sự hỗ trợ của Chương trình Kiểm soát Ung thư Quốc gia. 100.000 phụ nữ trong độ tuổi 30-54 đã được sàng lọc ung thư cổ tử cung và ung thư vú, 9.634 người đã được sàng lọc ung thư miệng và đại trực tràng trong giai đoạn 2008–2010.

Tuy nhiên, việc tầm soát ung thư vú và ung thư cổ tử cung mới chỉ được thực hiện ở một số nhóm dân cư do nguồn lực thấp. Hạn chế của chương trình sàng lọc cũng là thiếu theo dõi. Với sự hỗ trợ của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), trong giai đoạn 2015–2016, 24.000 phụ nữ ở Hà Nội và Cần Thơ đã được khám sàng lọc ung thư vú và cổ tử cung bằng kỹ thuật khám ung thư vú và VIA. Quy trình theo dõi cũng được thử nghiệm.

Kiến thức, niềm tin của người dân về bệnh ung thư trong cộng đồng

Kết quả từ một nghiên cứu trên 20.000 người trên 20 tỉnh / thành phố năm 2010 về kiến thức, niềm tin và hành vi của người dân về phòng chống ung thư cho thấy chỉ có 28,7% người dân hiểu đúng về bệnh ung thư và 48,3% người tham gia cho rằng phẫu thuật sẽ làm cho bệnh nhân ung thư chết sớm hơn.

Đó là lý do tại sao mục tiêu của chương trình phòng chống ung thư quốc gia là nâng cao đến 70% người dân trong cộng đồng hiểu đúng về phòng chống ung thư và 100% cán bộ y tế làm việc tại các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện được đào tạo về phòng chống và phát hiện sớm ung thư bằng 2017.

Hệ thống y tế thiếu động viên nên người dân chưa hiểu đầy đủ về vai trò của tầm soát ung thư và việc tầm soát ung thư không được đưa vào BHYT. Nghiên cứu này cũng cho thấy kiến thức của người dân về các tín hiệu cảnh báo ung thư vẫn còn thấp. Tỷ lệ người biết nhiều hơn bốn tín hiệu cảnh báo ung thư chỉ là 22,3%, và 19,7% người được phỏng vấn không thể gọi tên bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào.

Điều trị và chẩn đoán

Một trong những vấn đề quan trọng trong chẩn đoán ung thư ở Việt Nam là sự sẵn có của bác sĩ bệnh lý giỏi ở các trung tâm ung thư tỉnh. Các kỹ thuật hiện đại về hóa mô miễn dịch và phân tích phân tử sẽ thúc đẩy chăm sóc cá nhân cũng chỉ có thể tiếp cận được tại một số trung tâm ung thư toàn diện. 

Nhiều khóa đào tạo nâng cao kiến ​​thức về chẩn đoán và điều trị ung thư thường xuyên được tổ chức, nhưng lại thiếu chương trình giảng dạy cho các bác sĩ chuyên khoa ung thư và đặc biệt là cho y tá. Gần đây, các quy định của Bộ Y tế về cấp phép hành nghề và đào tạo y tế liên tục (CME), đã hướng dẫn các quy trình điều trị cụ thể có thể nâng cao chất lượng điều trị. Tuy nhiên, việc giám sát và đảm bảo chất lượng của các quy trình chẩn đoán và điều trị phải được phát triển trong tương lai.

Chăm sóc bệnh nhân

Vì số lượng rất lớn bệnh nhân ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn nặng và không thể chữa khỏi, nên việc chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư ở các nước đang phát triển là rất quan trọng. Hơn 70% bệnh nhân Việt Nam ở giai đoạn muộn (2). Người ta có thể tưởng tượng rằng có nhu cầu rất lớn về chăm sóc giảm nhẹ và đây cũng là một ưu tiên khẩn cấp.

Tuy nhiên, chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư là một chuyên khoa ung thư khá mới ở Việt Nam, với khoa chăm sóc giảm nhẹ đầu tiên được thành lập vào năm 2000 tại Bệnh viện Ung thư Quốc gia. Hồ Chí Minh và ba bệnh viện tuyến tỉnh chỉ có đơn vị chăm sóc giảm nhẹ. Không có nhà tế bần về ung thư ở Việt Nam. Điều này có nghĩa là các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ hiện tại không đáp ứng được nhu cầu ở Việt Nam.

Chi phí điều trị

Ung thư là một căn bệnh tốn kém để điều trị và nhiều bệnh nhân không có khả năng theo đuổi việc điều trị. Bảo hiểm y tế không chi trả tất cả các khoản phí điều trị, đặc biệt là thuốc nhắm mục tiêu và kỹ thuật cao. Hơn nữa, người bệnh và người nhà phải lo chi phí sinh hoạt ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM thường đắt đỏ. Hình 4 cho thấy 22,36% hộ gia đình bệnh nhân ung thư (263/1176) gặp khó khăn về kinh tế trong cuộc phỏng vấn kéo dài 12 tháng.

Việc thiếu khả năng chi trả cho việc điều trị dẫn đến tỷ lệ bỏ điều trị khá cao dẫn đến việc tìm kiếm các phương pháp điều trị thay thế hoặc truyền thống hoặc bệnh nhân không được nhập viện điều trị cho đến khi ung thư đã quá muộn mà họ chỉ có thể được chăm sóc giảm nhẹ.

Cơ sở hạ tầng

Kế hoạch Kiểm soát Ung thư Quốc gia (NCCP) được bắt đầu vào năm 2008 với mục đích cung cấp chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Mục tiêu là xây dựng cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động ung thư với sự cải thiện về số lượng và chất lượng của đội ngũ nhân viên y tế trong việc kiểm soát ung thư cũng như các cơ sở điều trị ung thư. Ví dụ, do đầu tư đáng kể, số lượng máy xạ trị ở Việt Nam đã tăng đáng kể từ 28 máy trị liệu từ xa (15 máy Coban và 13 máy gia tốc tuyến tính) năm 2010 lên 36 máy gia tốc tuyến tính vào năm 2015.

Sự gia tăng nhanh chóng về thiết bị xạ trị sẵn sàng điều trị bệnh nhân ung thư song song với sự gia tăng số lượng bác sĩ ung thư bức xạ, y tá ung thư và bác sĩ xạ trị vận hành thiết bị xạ trị. Có khoảng 105 bác sĩ ung thư bức xạ, 49 nhà vật lý y tế và 98 nhà điều trị bức xạ vào năm 2010. Dữ liệu hiện tại không có sẵn, nhưng phải tăng rất nhiều. Tuy nhiên, sự gia tăng trang thiết bị và nhân viên này có lẽ chỉ để theo kịp với sự gia tăng gánh nặng ung thư nên không đủ đáp ứng nhu cầu.

PHẦN KẾT LUẬN
Tại Việt Nam, ung thư là một vấn đề sức khỏe được ưu tiên hàng đầu. Kế hoạch Kiểm soát Ung thư Quốc gia bắt đầu vào năm 2008. Mạng lưới Kiểm soát Ung thư Quốc gia đã được Bộ Y tế phê duyệt. Các thành phần chính của NCCP là nâng cao nhận thức của người dân trong cộng đồng, tầm soát và phát hiện sớm các bệnh ung thư có thể phòng ngừa, nâng cao kiến ​​thức của nhân viên y tế và tăng cường giám sát và đăng ký ung thư. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức, bao gồm nguồn lực, xây dựng chính sách và cải thiện quan hệ đối tác để kiểm soát ung thư.

Nguồn tham khảo: Cancercontrol.info Tổng hợp: Thuốc Đặc Trị 247 Health News

Last Updated on 25/11/2020 by Võ Mộng Thoa

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here